Thứ Hai, 27 tháng 4, 2015

ASEAN kêu gọi Trung Quốc chấm dứt cải tạo, lấn biển tại Biển Đông

Ngoại trưởng Malaysia: “Chúng tôi đánh giá cao nếu Trung Quốc ngừng các hoạt động cải tạo xâm lấn biển tại khu vực biển Đông”.

Hôm nay 26/4, Ngoại trưởng Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vào kêu gọi Trung Quốc ngừng xây dựng và cải tạo tại vùng biển tranh chấp ở Biển Đông và tham gia vào các cuộc thảo luận trước hội nghị thượng đỉnh khu vực.
Phát biểu tại cuộc họp báo, Ngoại trưởng Malaysia Anifah Ahman, nước Chủ tịch luân phiên của ASEAN tuyên bố: “Chúng tôi đánh giá cao nếu Trung Quốc ngừng các hoạt động cải tạo xâm lấn biển tại khu vực biển Đông và thảo luận cùng các nước thành viên ASEAN. Các nước thành viên ASEAN muốn thấy rằng vấn đề này cần được giải quyết một cách thân thiện vì nó không chỉ ảnh hưởng đến các quốc gia có kiến nghị mà toàn thể ASEAN, bởi chúng tôi nằm trong khu vực này, nếu khu vực có bất kỳ sự bất ổn nào  các quốc gia trong khu vực sẽ bị ảnh hưởng”.
Ngoại trưởng Malaysia Anifah Ahman
Ngoại trưởng Malaysia Anifah Ahman
Trước đó, cùng ngày, Philippines cảnh báo Trung Quốc đòi nắm “quyền kiểm soát thực tế” ở Biển Đông, đồng thời kêu gọi các nước “dứt khoát phải có phản ứng trực diện và quyết liệt” với Bắc Kinh.
Phát biểu với những người đồng cấp tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM) đang diễn ra tại Malaysia, Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario đã đề cập đến một chiến dịch bối lấn đất đai tại những bãi đá ngầm có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.
Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei có tuyên bố chủ quyền tại một số khu vực ở Biển Đông, trong khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền gần như toàn bộ khu vực có ý nghĩa chiến lược này và ngày càng tỏ rõ tham vọng về lãnh thổ của mình, vấn đề khiến các nước trong khu vực và thế giới quan ngại./.
Theo Vũ Anh Tuấn/VOV - Trung tâm Tin

Tàu Trung Quốc thách thức máy bay Philippines

Tàu của Trung Quốc đã thách thức một chiếc máy bay quân sự Philippines đang tuần tra trên vùng biển tranh chấp ở biển Đông, quân đội Philippines cho biết hôm 26-4 trong bối cảnh căng thẳng gia tăng tại đây.

Người phát ngôn quân đội Philippines, Chuẩn tướng Joselito Kakilala, cho biết máy bay nước này đang bay trên Đá Xubi (gần đảo Thị Tứ mà Philippines chiếm đóng trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam) ngày 19-4, một tàu Trung Quốc thông báo qua radio yêu cầu máy bay Philippines rời khỏi “lãnh thổ Trung Quốc”.
Những tuần gần đây, các quan chức Philippines cáo buộc Trung Quốc sử dụng vòi rồng, thậm chí lấy các mẻ cá và ngư cụ của ngư dân Philippines ở biển Đông.
 Tàu đánh cá Philippines neo đậu gần thị trấn ven biển Infanta, miền Bắc nước này
Tàu đánh cá Philippines neo đậu gần thị trấn ven biển Infanta, miền Bắc nước này 
Cùng ngày, Philippines cảnh báo Trung Quốc đang tiến gần việc nắm “quyền kiểm soát thực tế” ở biển Đông, đồng thời kêu gọi các nước “đứng lên” chống lại điều này. Phát biểu tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN tại Kuala Lumpur - Malaysia, Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario cho rằng Trung Quốc đang ồ ạt xây dựng cơ sở hạ tầng trên các đảo, bãi đá trên biển Đông. “Các mối đe dọa đến từ các công trình cải tạo thực địa rầm rộ đó hoàn toàn có thật và không thể bị bỏ qua hay phủ nhận. Tác hại từ các hành động của Trung Quốc rất to lớn, vượt quá phạm vi khu vực và ảnh hưởng đến toàn thế giới” – ông Albert del Rosario nói.
Trong khi đó, bản dự thảo tuyên bố của Hội nghị cấp cao ASEAN, diễn ra tại Malaysia trong ngày 27-4, nhấn mạnh việc Trung Quốc đẩy mạnh xây đảo mới có thể hủy hoại hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực tranh chấp trên biển Đông. Dự thảo tuyên bố viết: “Chúng tôi chia sẻ mối quan ngại sâu sắc của một số nhà lãnh đạo về phần đất đang được bồi đắp ở biển Đông, hành động gây xói mòn niềm tin, có thể gây tổn hại cho hòa bình, an ninh và sự ổn định”.
Theo H.Bình (Straits Times, Daily Mail)
Người Lao động

Việt-Trung nhất trí sớm ký hiệp định cửa sông Bắc Luân và Thác Bản giốc

Việt Nam và Trung Quốc đã nhất trí sớm ký kết Hiệp định Tàu thuyền đi lại ở cửa sông Bắc Luân và Hiệp định Hợp tác khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch thác Bản Giốc.

Ảnh minh họa (TTXVN) 
Ảnh minh họa (TTXVN)
Theo Bộ Ngoại giao Việt Nam, từ ngày 22-25/4/2015, tại Hà Nội, đã diễn ra đàm phán vòng V về Hiệp định Tàu thuyền đi lại tại khu vực tự do đi lại ở cửa sông Bắc Luân và đàm phán vòng III về Hiệp định Hợp tác khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch thác Bản Giốc giữa Việt Nam và Trung Quốc. 
Trưởng đoàn phía Việt Nam là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới quốc gia - Bộ Ngoại giao. Trưởng đoàn phía Trung Quốc là  Vụ trưởng Vụ các vấn đề biên giới và biển đảo - Bộ Ngoại giao.
Cuộc họp diễn ra trong bầu không khí hữu nghị và thẳng thắn. Hai bên tập trung trao đổi sâu rộng các nội dung cùng quan tâm và đã thống nhất nhiều nội dung dự thảo hai Hiệp định nêu trên.
Hai bên nhất trí sẽ tăng tần suất đàm phán để sớm thống nhất những nội dung còn có quan điểm khác nhau, để có thể sớm ký kết các Hiệp định này. Kết thúc vòng họp, hai bên đã ký Biên bản kết quả đàm phán.
Vòng IV đàm phán về Hiệp định tàu thuyền đi lại tại khu vực tự do đi lại ở cửa sông Bắc Luân đã được hai nước tiến hành vào hồi tháng 1/2015. Hai bên nhất trí sẽ tích cực đàm phán để có thể sớm ký kết Hiệp định này trong năm nay.
Đây là một trong các hiệp định mà lãnh đạo cấp cao Việt Nam và Trung Quốc nhiều lần khẳng định ưu tiên xúc tiến hoàn tất.

Nam Hằng

Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2015

Trung Quốc muốn gì ở thượng đỉnh Á-Phi?

Hàng chục lãnh đạo các nước châu Á và châu Phi nhóm họp tại Indonesia trong khuôn khổ thượng đỉnh Á-Phi. Báo chí Pháp nói rằng Trung Quốc muốn lợi dụng hội nghị này cho mưu đồ bành trướng của mình.

Trung Quốc muốn gì ở thượng đỉnh Á-Phi?
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phát biểu tại Hội nghị thượng đỉnh Á-Phi ở Jakarta, Indonesia, ngày 22/4/2015
Ngày 19/4, hội nghị thượng đỉnh các nước Á-Phi đã khai mạc tại Jakarta, Indonesia. Hội nghị thu hút sự tham gia của các đại biểu đến từ 89 nước châu Á và châu Phi, với hơn 30 nhà lãnh đạo cấp cao, cùng các giám đốc điều hành các tập đoàn kinh tế hàng đầu của hai châu lục.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã trình bày chiến lược nhiều tham vọng để phát triển kinh tế trên khắp châu Á và châu Phi qua việc xây dựng cơ sở hạ tầng và ký kết các hiệp định hợp tác thương mại.
Trong tháng qua, Trung Quốc đã phác họa các kế hoạch của họ về “Con đường Tơ lụa mới”, theo đó Bắc Kinh sẽ đầu tư nhiều tỉ USD cho các dự án cơ sở hạ tầng ở châu Á, Trung Đông và châu Âu.
Kế hoạch có tên “Một Vành Đai, Một Con Đường” cũng bao gồm việc phát triển một tuyến thương mại trên biển nối liền các hải cảng của Trung Quốc với những trung tâm thương mại ven biển ở châu Phi và Trung Đông.
Kế hoạch sẽ làm tăng mạnh vai trò kinh tế vốn rất đáng kể của Trung Quốc trong hoạt động thương mại toàn cầu trong lúc cam kết nối kết các nước muốn thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của chính họ.
Ông Tập nói với các đại biểu của gần 100 nước rằng Bắc Kinh sẽ giảm thiểu thêm nữa thuế suất nhập khẩu cho các nước đang phát triển để giúp những nước này tăng cường nền kinh tế của mình.
Cuối năm nay, Trung Quốc sẽ dành mức thuế 0% cho 97% các mặt hàng nhập khẩu từ tất cả các quốc gia kém phát triển có quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, và Trung Quốc sẽ tiếp tục cung cấp sự trợ giúp cho các nước đang phát triển mà không kèm theo những điều kiện chính trị.
Lãnh đạo Trung Quốc nói rằng kế hoạch kinh tế của nước ông là “phương pháp đôi bên cùng thắng”, thông qua việc xúc tiến thương mại và đầu tư.
Những người chỉ trích kế hoạch phát triển của Trung Quốc nói rằng các dự án xây dựng của nước này không tuân thủ những biện pháp bảo vệ nhân quyền và môi trường như những dự án được tài trợ bởi các định chế quốc tế như Ngân hàng Thế giới. Mỹ thường đặt điều kiện cho những khoản viện trợ phát triển, đòi các nước nhận viện trợ cải thiện tính chất minh bạch, bài trừ tham nhũng hoặc đạt được những tiến bộ về các quyền chính trị và xã hội.
Liên quan đến kế hoạch này của Trung Quốc, báo Les Echos (Pháp) ra ngày 21/4 có bài viết: “Ở Jakarta, Trung Quốc muốn tranh thủ Hội nghị Á-Phi để chính đáng hóa chiến lược bành trướng của mình”. Bài báo nhắc lại rằng Trung Quốc là một trong những tác nhân chính ở Hội nghị Bandung năm 1955, đã khai sinh Phong trào Không liên kết. Phong trào Không liên kết là tổ chức dành cho các quốc gia không muốn đứng vào phía nào trong thời kỳ Chiến tranh lạnh với hai quốc gia đứng ở hai cực là Mỹ và Liên Xô. 60 năm sau, Trung Quốc tiếp tục muốn ghi đậm dấu ấn ở thượng đỉnh Á-Phi tại Jakarta.
Theo Les Echos, đối với Trung Quốc rõ ràng thượng đỉnh Á-Phi mang tính chiến lược: vào năm 1955, Trung Quốc chuẩn bị bước Đại nhảy vọt, hiện nay thì họ đã trở thành cường quốc kinh tế thứ nhì thế giới.
Tác giả bài báo trích nhận xét của một chuyên gia Pháp David Camroux, cho rằng Trung Quốc muốn lợi dụng sự hiện diện ở hội nghị để “làm cho hành động của mình ở châu Phi trở nên chính đáng hơn”.
Lý do là giờ đây, theo bài báo, trong tại châu Phi, Bắc Kinh không còn tôn trọng 5 nguyên tắc chung sống hòa bình được nêu lên năm 1955 – tôn trọng chủ quyền, không can thiệp, đồng thuận, tương trợ... - mà là hành động tùy theo nhu cầu của mình, nhất là về nguyên liệu.
Không chỉ đối với châu Phi, mà đối với các láng giềng châu Á cũng vậy, Trung Quốc đẩy các con tốt của mình, ở phía nam Ấn Độ Dương hay phía Đông Nam mà những hình ảnh gần đây cho thấy Trung Quốc bồi đắp các bãi đá, thiết lập đường băng... Theo đánh giá của chuyên gia Camroux, Trung Quốc đang thay đổi hiện trạng ở những nơi này.
Tại hội nghị ở Indonesia năm nay, tác giả bài báo trên Les Echos còn thấy một đọ sức khác, đọ sức Nhật-Trung, vì Nhật cũng đang giành ảnh hưởng. Bắc Kinh cũng như Tokyo đều muốn đánh dấu vùng ảnh hưởng của mình, nhấn mạnh trên những giới hạn về mặt kinh tế.
Theo Nh.Thạch (tổng hợp)
PetroTimes

Trung Quốc cảnh báo việc Triều Tiên mở rộng kho vũ khí hạt nhân

Các chuyên gia hạt nhân Trung Quốc tin rằng Triều Tiên có thể đang sở hữu một kho vũ khí gồm 20 đầu đạn hạt nhân và trữ đủ lượng uranium để tăng gấp đôi số vũ khí vào năm tới.

Trung Quốc cảnh báo việc Triều Tiên mở rộng kho vũ khí hạt nhân. (Ảnh:
Trung Quốc cảnh báo việc Triều Tiên mở rộng kho vũ khí hạt nhân. (Ảnh: WST)

The tờ Wall Street Journal, bản đánh giá của các chuyên gia người Trung Quốc được chuyển tới tay các chuyên gia hạt nhân của Mỹ trong một cuộc họp kín vào tháng 2 vừa qua. Số lượng vũ khí hạt nhân được ước tính lần này còn cao hơn số lượng trong bất kỳ đánh giá nào trước đây của Trung Quốc.

Lượng vũ khí cũng vượt ước tính gần đây của các chuyên gia Mỹ khi họ cho rằng kho tàng hiện nay của Triều Tiên chứa khoảng 10-16 vũ khí hạt nhân.

Chuyên gia hàng đầu về chương trình hạt nhân của Triều Tiên, người từng tham gia cuộc họp tháng 2, ông Siegfried Hecker cho biết kho dự trữ lớn của Triều Tiên sẽ chỉ càng làm phức tạp thêm những thách thức cộng đồng quốc tế đang phải đối mặt khi thuyết phục Bình Nhưỡng phi hạt nhân hóa.

"Họ càng tin rằng mình có một kho vũ khí hạt nhân đầy đủ chức năng... thì sẽ càng khó dẫn dắt họ quay lại", ông Hecker nói.

Uớc tính trên của Trung Quốc phản ánh mối quan tâm ngày càng sâu sắc của Bắc Kinh tới tham vọng hạt nhân từ Bình Nhưỡng, đây cũng là một trong hàng loạt những đánh giá mới nhất cho thấy Bình Nhưỡng đang tiến nhanh trên con đường hạt nhân.

Một báo cáo gần đây của các nhà khoa học Mỹ đã cảnh báo rằng Triều Tiên có vẻ đã sẵn sàng mở rộng chương trình hạt nhân trong vòng 5 năm tới, và trong trường hợp xấu nhất họ có thể sở hữu 100 vũ khí nguyên tử vào năm 2020.

Triều Tiên đã tiến hành các vụ thử hạt nhân vào năm 2006, 2009 và 2013, đồng thời tích cực phát triển một chương trình tên lửa đạn đạo, mặc dù ý kiến của các chuyên gia vẫn xoay quanh việc Triều Tiên đã xúc tiến được đến mức nào. 

Năm 2012 Bình Nhưỡng đã chứng tỏ khả năng sử dụng tên lửa bằng việc bắn một vệ tinh vào quỹ đạo, nhưng họ vẫn chưa tiến hành thử nghiệm để chứng minh mình đã làm chủ được công nghệ tái nhập cần thiết cho tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM).

Một câu hỏi then chốt được đặt ra là Triều Tiên đã tiến đến bước nào trong nỗ lực thu nhỏ thiết bị hạt nhân để gắn trên đỉnh chóp của tên lửa. Trong một báo cáo được công bố hồi tháng 1, Bộ Quốc phòng Hàn Quốc cho biết Triều Tiên đã đưa công nghệ thu nhỏ kích thước thiết bị lên đến một trình độ "đáng kể".
 
Thu Trà
Theo Wall Street Journal

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2015

Vì sao Trung Quốc cấp khoản vay 5 tỷ USD cho Venezuela?

Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro ngày 20/4 thông báo Trung Quốc đã đồng ý cấp khoản vay mới trị giá 5 tỷ USD cho quốc gia Nam Mỹ này.

Tổng thống Maduro trong chuyến thăm Bắc Kinh (Ảnh:
Tổng thống Maduro trong chuyến thăm Bắc Kinh (Ảnh: EFE)
 
Trong một tuyên bố, Tổng thống Maduro cho biết khoản vay mới được cấp sẽ được chính phủ Venezuela sử dụng "để phát triển kinh tế". Tuy nhiên, ông không nêu chi tiết về kế hoạch phát triển kinh tế này.
Trong khi đó, giới chuyên gia đang có những tranh luận về việc liệu Trung Quốc cho vay để giải cứu Venezuela hay Bắc Kinh không muốn để mất những lợi ích mà nước này gây dựng được tại khu vực Nam Mỹ thời gian qua?.
Kinh tế Venezuela đang gặp khó khăn kể từ sau khi giá dầu tụt dốc hồi năm ngoái. Theo số liệu được Bộ Dầu khí Venezuela công bố, giá dầu ở nước này đã giảm gần 50% trong thời gian qua, từ 97 USD/thùng hồi tháng 4/2014 xuống còn 50 USD/thùng vào thời điểm hiện tại.  
Trước đó, Tổng thống Maduro đã công du tới Trung Quốc, Nga và một số nước trong OPEC để thảo luận về các biện pháp nhằm ngăn chặn đà trượt dốc của giá dầu.
Tại Bắc Kinh, Tổng thống Maduro đã thảo luận về việc sẽ tiếp tục bán dầu cho Trung Quốc, đổi lại một gói hỗ trợ tài chính. Kể từ năm 2007, Trung Quốc đã cấp khoản vay trị giá hơn 50 tỷ USD cho Venezuela trong một thỏa thuận gọi là "tiền dầu trả trước".
Cụ thể, Venezuela sẽ thanh toán nợ cho Trung Quốc bằng khí đốt và dầu mở được chuyển thằng từ các mỏ sang quốc gia châu Á, bảo đảm giúp Bắc Kinh có một nguồn cung ổn định, trong khi Caracas có ngân sách để phát triển các dự án kinh tế.
Tuy nhiên, Trung Quốc đang hạn chế mô hình tài chính quốc tế chấp nhận các dự án có tính rủi ro cao. Các học giả Xue Li và Xu Yanzhou cho rằng: "Những khoản đầu tư của Trung Quốc ở khu vực Mỹ Latinh mang lại lợi nhuận thấp hoặc thậm chí không có lợi nhuận, song Bắc Kinh không hề muốn không thu lại được gì mà còn bị lỗ nặng".
Khi nói đền trường hợp của riêng Venezuela, hai học giả nêu trên cho rằng Trung Quốc nên cắt đứt nguồn tài chính: "Khoản đầu tư và cho vay của Trung Quốc cho Venezuela đã lên đến hơn 70 tỷ USD. Cân nhắc tình hình kinh tế và chính trị tại quốc gia Nam Mỹ này, thật khó để tiếp tục cấp thêm các khoản vay hay đầu tư nào khác".
Vậy tại sao Bắc Kinh vẫn tiếp tục cho Venezuela vay thêm 5 tỷ USD? Giới phân tích cho rằng Trung Quốc đang cố gắng ngăn chặn một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng ở Venezuela, quốc gia đã giúp Bắc Kinh có được một chỗ đứng về địa chính trị tại khu vực Mỹ Latinh nhiều năm qua.
Thời gian qua, truyền thông Trung Quốc đã tập trung đưa tin về căng thẳng giữa chính quyền của Tổng thống Maduro với Mỹ trước Hội nghị Thượng đỉnh các nước châu Mỹ tại Panama.
Rõ ràng, một cuộc khủng hoảng kinh tế thực sự tại Venezuela sẽ đe dọa tới lợi ích kinh tế và an ninh của Trung Quốc ở khu vực Mỹ Latinh. Dù khu vực này không phải là khu vực quan trọng trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc song về lâu dài, đây là một khu vực mà Bắc Kinh muốn hướng đến. Do đó, Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục có những biện pháp vừa đủ để trợ giúp nền kinh tế Venezuela.
Ngọc Anh

Lật tẩy chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông

Binh pháp Tôn Tử từng nêu, "Không cần đánh mà làm kẻ địch khuất phục mới gọi là sáng suốt nhất trong sự sáng suốt" hay "Thượng sách bao gồm cả việc triệt hạ sự kháng cự của kẻ địch mà không cần đánh".


François-Xavier Bonnet, nhà địa lý kiêm chuyên gia nghiên cứu Đông Nam Á người Pháp, đã có bài viết lật tẩy việc áp dụng chiến lược này của TQ ở quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.
Nhiều tác giả viết về tuyên bố chủ quyền của TQ đối với quần đảo Hoàng Sa đã ghi cuộc viễn chinh chính thức đầu tiên của TQ tới quần đảo này là vào năm 1902. Tuy nhiên, không ai trong số họ có thể trưng ra bất kỳ hồ sơ nào về việc cuộc viễn chinh đó đã diễn ra. Trong thực tế, các tài liệu của TQ cho thấy, cuộc viễn chinh như vậy chưa bao giờ xảy ra.
Thay vào đó, một cuộc thám hiểm bí mật diễn ra vài thập niên sau đó nhằm cài cắm bằng chứng khảo cổ giả mạo trên quần đảo, nhằm bênh vực tuyên bố chủ quyền của TQ. Chiến lược tương tự đã được áp dụng đối với quần đảo Trường Sa: các cột mốc đánh dấu chủ quyền năm 1946 thực tế đã được sắp đặt 10 năm sau đó, vào năm 1956.
Lật tẩy chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông
Phân tích hình ảnh vệ tinh bãi Chữ Thập, quần đảo Trường Sa của VN, với các cầu cảng do TQ xây dựng phi pháp. (Ảnh: Inquirer)

Trong cuốn sách "Contest for the South China Sea" (tạm dịch: "Tranh chấp Biển Đông") nổi tiếng của mình, giáo sư Marwyn Samuels đã quở trách các học giả phương Tây từng viết rằng, cuộc viễn chinh đầu tiên của TQ tới quần đảo Hoàng Sa diễn ra vào năm 1909. Thay vào đó, ông quả quyết, cuộc viễn chinh này diễn ra vào năm 1902.
Theo ông Samuels, chuyến đi thị sát đầu tiên như vậy do Đô đốc Lý Chuẩn chỉ huy và là nỗ lực đầu tiên của TQ nhằm thực thi công ước 1887 giữa Pháp và TQ, khẳng định các quyền của nước này đối với quần đảo Hoàng Sa.
Kể từ khi cuốn sách gây ảnh hưởng mạnh mẽ của Samuels được xuất bản, nó dường như đã trở thành thông lệ khi nhắc tới sự kiện "không thể tranh cãi" này trong các cuốn sách và bài báo liên quan đến tranh chấp ở Biển Đông. Tuy nhiên, không có bất kỳ tác giả nào về sau có thể chứng minh được khẳng định ấy.
Các chiến dịch khảo cổ những năm 1970 và tuyên bố chính thức
Từ năm 1974 tới 1979, quân đội giải phóng nhân dân Trung Hoa (PLA) và các nhà khảo cổ TQ đã tiến hành nhiều chuyến đi khảo sát ở quần đảo Hoàng Sa. Trong số các hiện vật được phát hiện trong những chuyến đi này có nhiều đồ tạo tác bằng sứ thuộc nhiều thời kỳ khác nhau, các di tích đền thờ và nhiều cột mốc chủ quyền. Các cột mốc đề năm 1902, 1912 và 1921.
Năm 1973, một tạp chí ở Hong Kong có tên The Seventies cho đăng tải bức ảnh chụp một phiến đá đề năm 1902, được tìm thấy trên một hòn đảo nhỏ thuộc quần đảo Hoàng Sa. Báo The Hong Kong Standard đưa tin về các khám phá vào ngày 6/3/1979, trong một bài báo nhan đề "Phiến đá chứng minh các quyền cổ xưa". Cả hai bài báo này, vốn đều cho đăng hình một phiến đá năm 1902, đã trở thành các nguồn cung cấp thông tin duy nhất về cuộc viễn chinh "không thể bàn cãi" vào năm 1902, cho các học giả như Hungdah Chiu và Choon-ho Park hay Marwyn Samuels vào năm 1982.
Trước năm 1979, không có học giả TQ hoặc phương Tây nào từng đề cập tới sự tồn tại của cuộc viễn chinh năm 1902. Chuyến đi chính thức duy nhất tới quần đảo Hoàng Sa được ghi chép vào biên niên sử nhà Thanh là cuộc thị sát do Đô đốc Lý Chuẩn đứng đầu, vào năm 1909.
Chuyến thám hiểm "ma" tới quần đảo Hoàng Sa
Có một lí do đơn giản khiến không học giả nào từng có thể tìm thấy bất kỳ tài liệu lịch sử nào về cuộc viễn chinh năm 1902: nó chưa bao giờ diễn ra. Thay vào đó, bằng chứng về cuộc viễn chinh năm 1902 đã được tạo dựng rất lâu sau đó, vào năm 1937.
Tháng 6/1937, tư lệnh vùng quân sự số 9 của TQ, Hoàng Cường, đã được cử đến quần đảo Hoàng Sa với 2 sứ mệnh: Trước hết là kiểm tra các báo cáo rằng quân Nhật đang xâm chiếm quần đảo và hai là tái khẳng định chủ quyền của TQ đối với quần đảo này. Theo các ghi chép về sứ mệnh của ông Cường đề ngày 31/7/1937, ông đã rời Quảng Đông vào ngày 19/6 và tới quần đảo Hoàng Sa vào ngày 23/6. Cùng ngày, ông thăm 4 hòn đảo thuộc nhóm đảo An Vĩnh (đảo Phú Lâm, đảo Đá, đảo Linh Châu và đảo Bắc) của quần đảo Hoàng Sa. Ngày tiếp theo, 24/6, ông rời tới đảo Hải Nam.
Sứ mệnh ngắn ngủi và tối mật này đã được các nhà sử học TQ Hàn Chấn Hoa, Lâm Kim Chi, Ngô Phương Bân kể lại chi tiết trong cuốn "Tài liệu biên soạn các tư liệu lịch sử về quần đảo Hoàng Sa của chúng ta ở Biển Đông", xuất bản năm 1988. Tuy nhiên, nếu họ đã công bố báo cáo ngày 31/7/1937, họ đã quên, một cách vô tình hoặc hữu ý, công bố phụ lục của báo cáo này. May mắn là, phần phụ lục tối mật của báo cáo này đã được Ủy ban các địa danh của tỉnh Quảng Đông cho công bố năm 1987, trong một cuốn sách nhan đề "Tài liệu biên soạn về tên tham khảo của tất cả các hòn đảo của chúng ta ở Nam Hải". Phụ lục này nêu chi tiết các hành động của ông Huang Qiang ở Hoàng Sa.
Trong phần phụ lục này, ông Cường giải thích rằng, như kế hoạch, thuyền của ông chở theo 30 cột mốc chủ quyền. Trong số chúng có 4 cột mốc đề thời nhà Thanh, số còn lại đề năm 1912 (thời điểm đánh dấu sự ra đời của Trung Hoa Dân quốc) và năm 1921. Tuy nhiên, ông Cường không mang theo cột mốc nào đề năm 1937, vì sứ mệnh này là tuyệt mật. Đoàn công tác của ông đã phát hiện 4 cột mốc từ thời nhà Thanh, đề năm 1902 ở thành phố Quảng Đông. Theo phụ lục báo cáo, đoàn công tác đã chôn những cột mốc này, đánh dấu tọa độ địa lý của chúng trên 4 hòn đảo thuộc cụm An Vĩnh.
Trên đảo Bắc, họ đã chôn 2 cột mốc đề năm 1902 và 4 cột mốc năm 1912. Trên đảo Linh Châu, đoàn đã chôn 1 cột mốc đề năm 1902, một cột mốc đề năm 1912 và một năm 1921. Trên đảo Phú Lâm, họ đã chôn 2 cột mốc đề năm 1921. Cuối cùng, trên đảo Đá, họ chôn một cột mốc đề năm 1912.
Nói tóm lại, chuyến đi năm 1937 đã cài cắm tổng cộng 12 cột mốc trên các hòn đảo, kể cả 3 cột mốc đề năm 1902. Chúng đã bị lãng quên trong giai đoạn từ năm 1937 tới năm 1979, nhưng sau đó "được phát hiện" trong các cuộc nghiên cứu của PLA và các chuyên gia khảo cổ học. Đây gần như chắc chắn là lời giải thích cho một câu bí ẩn trong cuốn sách của Samuels, khi ông viết rằng, các cột mốc năm 1902 được cho là đã bị mất tích trong chiến tranh thế giới lần thứ 2.
Bí ẩn các cột mốc chủ quyền ở quần đảo Trường Sa
Hầu hết các cuốn sách, bài báo và tuyên bố chính thức đề cập tới việc TQ tái giành lại quần đảo Trường Sa từ tay Nhật năm 1946 và cài cắm các cột mốc chủ quyền lên nhiều hòn đảo. Câu chuyện này được tác giả Đài Loan Trương Chấn Quốc đề cập tới lần đầu tiên trong cuốn sách "Chuyến đi tới Nam Sa" của ông, viết năm 1957 nhưng mãi tới năm 1975 mới xuất bản.
Trương, người đứng đầu cuộc thám hiểm của Đài Loan tới quần đảo Trường Sa năm 1956 (đối đầu với doanh nhân Thomas Cloma của Philippines), đã viết rằng, trong cuộc viễn chinh năm 1946 dưới sự chỉ huy của Mạch Uẩn Du, lực lượng này đã nắm quyền kiểm soát 3 hòn đảo có tên đảo Taiping (đảo Ba Bình), Nam Wei (đảo Trường Sa) và Xi Yue (đảo Bến Lạc). Trên 3 hòn đảo này, đoàn của Mạch đã cắm các cột mốc chủ quyền đề năm 1946.
Tuy nhiên, khi cuốn sách của ông Trương được xuất bản năm 1975, chỉ huy Mạch vẫn còn sống và đọc nó. Đây quả thực là một cú sốc với ông. Trong thực tế, ông Mạch thừa nhận, mặc dù đoàn của mình đã tới đảo Ba Bình vào tháng 12/1946, phá hủy các cột mốc của Nhật và cắm 2 cột mốc chủ quyền (phía bắc và nam của đảo), nhưng họ chưa bao giờ tới đảo Trường Sa và đảo Bến Lạc.
Trong thực tế, theo các tài liệu chính thức, khi doanh nhân Thomas Cloma của Phillipines tuyên bố quyền sở hữu của ông đối với quần đảo Trường Sa (Freedomland) năm 1956, Đài Bắc cử quân tuần tra 3 lần tới quần đảo này (2 tàu tuần tra từ ngày 2 - 14/6, 3 tàu từ 29/6 - 22/7 và 2 tàu từ 24/9 - 5/10). Trong những cuộc tuần tra này, các binh lính đã làm lễ thượng cờ và dựng các cột mốc chủ quyền trên 3 đảo Ba Bình, Trường Sa và Bến Lạc. Tuy nhiên, cũng lại một trò bịp bợm, các cột mốc này đề năm 1946, nhưng được đưa tới Nam Sa cài cắm 10 năm sau đó, vào năm 1956.
Khảo cổ học và chủ nghĩa ái quốc: Sự lèo lái chính trị của các cột mốc chủ quyền
Liệu các chuyên gia khảo cổ học có thành thật khi phát hiện các cột mốc ở quần đảo Hoàng Sa? hay họ đã bị PLA, những người biết rõ câu chuyện, "đạo diễn"? Chúng ta không thể biết được. Tuy vậy, nếu chúng ta tính đến tình tiết quan trọng về quần đảo Trường Sa, chúng ta có thể thấy một chiến lược có hệ thống và tinh vi hơn nhằm thao túng các tài liệu.
Hai tình tiết quan trọng này cho thấy những hạn chế của việc dựa vào các hiện vật khảo cổ khi cố gắng giải quyết tranh chấp lãnh thổ. Bất kỳ hiện vật nào cũng có thể chân thực (chẳng hạn như từ bảo tàng), nhưng được chôn xuống đất ở một thời điểm sau đó rất lâu. Trong cuộc chiến tâm lý về các quần đảo ở Biển Đông, trò bịp bợm này có thể đã được thực hiện. Các câu chuyện hoang đường đã xuất hiện trong nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Anh và tiếp cận độc giả quốc tế. Trong khi đó, có vẻ như chẳng có mấy nhà nghiên cứu biết tiếng Quan thoại và một nhóm chuyên gia TQ đã biết rõ những chuyện hoang đường này.
Tóm lại, tất cả ám chỉ, "khảo cổ học ái quốc" có nhiều kẽ hở và rằng, các chuyên gia cần phải thận trọng cảnh giác trước khi dựa vào chúng để thông qua phán quyết về các tranh chấp lãnh thổ.
 
Theo François-Xavier Bonnet (Quỳnh Anh dịch)
Vietnamnet
 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons